This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

Phòng chống bệnh hô hấp gà ta cần lưu ý

1. tuyến đường lây lan của bệnh
- Bệnh lây lan chủ yếu qua các con phố hô hấp trong khoảng gà bệnh sang gà khỏe
- Bệnh sở hữu thể truyền từ mẹ sang con qua trứng.
hai. Triệu chứng
- Gà con ủ rũ, xù lông, kém ăn, gầy.
- Chảy nước mũi, hay vẩy mỏ, gà ho, hen rộng rãi về ban đêm.
- Mặt sưng do viêm xoang.
- Gà lớn giảm đẻ, gầy.
3. Bệnh tích
- Xoang mũi, thanh khí quản xuất huyết lấm chấm, đầy dịch nhầy.
- Túi khía (vùng ngực, bụng) viêm, dày hơn và đục, có thể gặp viêm dính bã đậu.
4. giải pháp phòng trị
- Phòng bệnh:
+ Đảm bảo các giải pháp vệ sinh phòng bệnh.
+ Chỉ mua gà từ các hạ tầng giống phải chăng.
+ Đảm bảo chuồng nuôi thông thoáng, sạch sẽ, khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè.
+ Mật độ gà nuôi trong chuồng phù hợp, tránh nuôi quá dày.
- Điều trị bệnh
+ khi gà bị mắc bệnh có thể sử dụng một số chế phẩm như Tylosin, Tiamualin, Suanovin,... để điều trị; liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
+ Bổ sung cho gà thuốc bổ như B-complex, vitamin C, điện giải, trục đường gluco.

+ giải quyết nguyên cớ khiến bệnh tái phát (nhiệt độ thấp, độ ẩm quá cao, độ thông thoáng kém...).

Cách phòng bệnh cho vịt

Chăn nuôi vịt trong chủ yếu phân tán, nhỏ lẻ, không đảm bảo kê sinh thú y cộng mang thời tiết diễn biến phức tạp nắng, mưa thất thường ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn vịt là nguy cơ nảy sinh một số bệnh lây nhiễm nghiêm trọng như: Bệnh dịch tả vịt, tụ huyết trùng…..
Để chủ động phòng, chống dịch bệnh trên đàn vịt. Chi cục Thú y hướng dẫn phương pháp nhận mặt bệnh Dịch tả; Tụ huyết trùng vịt và các giải pháp phòng, trị như sau:
Bệnh thổ tả vịt:
– Nguyên nhân: Do vi rút Herper gây ra, bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc thù là vịt từ 15 ngày tuổi trở lên. Bệnh mang thuộc tính lây lan nhanh, mạnh, với tỷ lệ chết rất cao (80-90%).
– Triệu chứng: thời kì nung bệnh từ 3-4 ngày, sốt cao 43-44oC, bỏ ăn, đứng một chân, đầu rúc vào cánh, tiếng kêu khản đặc, sưng mi mắt, niêm mạc mắt đỏ, khó thở, tiếng thở khò khè, chảy nước mũi, rộng rãi con đầu sưng lớn, hầu, cổ bị sưng do đơn vị kết liên dưới da bị phù thủng, lòi gai sinh dục (vịt đực), sản lượng trứng giảm 25-40% (Vịt đẻ). lúc mới bị bệnh vịt khát nên uống phổ quát nước sau vài ngày vịt bị tiêu chảy phân loãng màu trắng xanh, với mùi khắm. Sau lúc xuất hiện triệu chứng được 5-6 ngày, con vật gầy rạc, tứ chi liệt, nằm 1 chỗ, rũ cánh, nhiệt độ giảm dần rồi chết.
– Bệnh tích: Mổ khám vịt bệnh thấy đầu, cổ sưng tụ máu, tím bầm; Xuất huyết điểm dày đặc trên cơ thể, xuất huyết, tụ máu trong cơ tim, ruột, màng treo ruột. Van tim, gan, tụy, thận xuất huyết. Đối với vịt đẻ nang trứng sung huyết, xuất huyết, trứng non méo mó, dạ dày tuyến, thực quản xuất huyết thành vòng, gây nổi ban trên niêm mạc trục đường tiêu hóa, ruột xuất huyết hình nhẫn.

– Phòng bệnh: giải pháp hiệu quả nhất là tiêm phòng vắc xin dịch tả vịt cho đàn vịt theo lịch: Lần thứ 1: lúc 3 ngày tuổi; Lần thứ 2: lúc 21 ngày tuổi (đối với vịt thịt), 45 ngày tuổi (đối có vịt đẻ), sau 6 tháng tiêm kể lại. phối hợp mang chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh sát trùng tiêu độc chuồng trại môi trường chăn nuôi, thức ăn, nước uống sạch sẽ, đảm bảo kê sinh Thú y.

Chỉ đạo phòng tránh rét trâu bò vùng cao

Thời khắc trâu bò chết đói, rét thường vào dịp Tết Nguyên đán hay vào những dịp lễ hội đầu năm nên ảnh hưởng to đến việc săn sóc đàn trâu bò. đa dạng địa phương đã ban hành những văn bản chỉ đạo, chỉ dẫn thực hành bên cạnh đó giả dụ ko giám sát việc thực hiện thì hiệu quả công việc phòng chống đói rét trên trâu bò ít hiệu quả. vì thế trong công việc chỉ đạo cần:
– Gắn bổn phận trong việc chỉ đạo công việc phòng chống đói, rét cho trâu, bò đối có chính quyền và cơ quan chuyên môn địa phương (tỉnh, quận, xã) trong việc để cho trâu bò chết rét trong vụ đông xuân.
– Thường xuyên rà soát, đôn đốc việc thực hiện, tổng hợp và đánh giá kết quả, khen thưởng kỉ luật kịp thời.
– Đối với các chính sách hỗ trợ, cần ưu tiên tương trợ trồng, chế biến, bảo quản và dự trữ thức ăn thô xanh, ko nên chú trọng hỗ trợ trâu bò chết đói, chết rét vì việc tương trợ trâu bò chết không với ảnh hưởng hăng hái tới hiệu quả phòng, chống đói rét cho trâu bò, cùng lúc ví như ko giám sát rẻ dễ phát sinh thụ động

các xuất xứ gây chết trên trâu, bò tại những tỉnh miền núi phía Bắc chủ yếu 
– Trâu, bò chết do đói lâu ngày: Trời giá rét, sương muối khiến những loại cây thức ăn thô xanh không vững mạnh được dẫn tới thiếu thức ăn thô xanh
– Trâu, bò chết do rối loạn tiêu hoá: nguyên cớ do bổ sung thức ăn tinh cho trâu bò ăn ko đúng khoa học dẫn tới trâu bò bị những bệnh về tiêu hoá như liệt dạ cỏ, ỉa chảy,… ko can thiệp kịp thời dẫn đến chết trâu bò

Phòng chống ngộ độc cho trâu bò khi ăn sắn

- Ở trâu, bò: sở hữu bộc lộ mệt mỏi, bỏ ăn, thắc thỏm đứng nằm không yên, mồm chảy nước dãi, không nhai lại, thân nhiệt ko quá cao. với thể chết rất nhanh chỉ sau vài giờ trong trường hợp cấp tính. - Ở lợn: Thường miêu tả nôn mửa lúc đầu, đi tả, thở khó, miệng sùi bọt, thân nhiệt giảm, run rẩy, co giật, hôn mê. có thể chết ngay khi đang ăn cám. - khi mổ khám gia súc bị ngộ độc sắn thường thấy các biểu lộ rõ nhất là niêm mạc ruột bị bong ra, tim ứ máu, màu sắc máu thay đổi, máu mang màu đỏ thắm (bình thường đỏ thẫm hoặc đỏ tươi). Trong dạ cỏ trâu, bò còn với phổ biến thức ăn từ sắn. phương pháp phòng: không cho gia súc ăn sắn tươi, chỉ nên cho ăn khi đã qua chế biến như ngâm nước vài giờ, xử lý qua nhiệt (phơi, sấy, nấu chín, ủ chua lên men…). Cân đối với lượng cỏ, chỉ cho ăn mang lượng vừa phải (khoảng 10- 40% trong khẩu phần) sau khi đã ăn các thức ăn khác. Chú ý: không để gia súc tự do vào nương sắn ăn lá và củ tươi dễ bị ngộ độc. Điều trị: Trong trường hợp nguy khốn phải mau chóng tiêm truyền tĩnh mạch dung dịch tuyến đường gluco, chiếc trừ chất độc trong con đường tiêu hóa bằng cách gây nôn cho gia súc càng nhanh càng thấp (nhất là đối sở hữu lợn) sau chậm tiến độ cho uống 10-20 gam bột than củi tán nhỏ mịn hoặc 2 lòng trắng trứng gà. Rửa ruột cho gia súc bằng cách thức thụt nước ấm vào lỗ đít. Giải độc máu bằng cách thức tiêm thuốc xanh metylen 1% (10 gam thuốc pha trong một lít nước). Liều tiêm cho lợn là 10-20 ml, trâu, bò, ngựa 40-50 ml, mang thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch. bí quyết giải độc máu thấp nhất là tiêm truyền tĩnh mạch bằng nước sinh lý ngọt, liều tiêm từ 200-500 ml. bên cạnh đó có thể cho gia súc uống nước tuyến đường, nước mía, mật mía sở hữu tác dụng rất khả quan, hoặc dùng nước rau má, lá khoai lang giã nát, cháo đậu đen, đậu xanh…Cần phối hợp tiêm các thuốc trợ lực như vitamin C giải độc, cafein trợ tim…...

Mô hình trồng nấm rơm trong nhà

Cách thức ủ rơm thành đống. cách này áp dụng được cho cả rơm tươi và khô. những bước tiến hành:
Rơm được chất thành đống, chiều rộng 1,5-2m, chiều dài 4-8m. lúc chất đống, cứ mỗi lớp rơm cao 20-30cm tưới nước để cho rơm thấm đều và dùng chân dậm cho dẽ, tiếp diễn chất những lớp tiếp theo cho đến khi đống rơm mang chiều cao 1,3-1,5m. Sau chậm triển khai lấy nylon, rơm khô hoặc lá chuối tủ chung vòng vèo để giữ ẩm và giữ nhiệt. Vài ngày sau khi ủ, nhiệt độ trong đống ủ lên cao khoảng 60- 70 độ C. Nhiệt độ sẽ khiến cho chết các mầm nấm dại và phân hủy một phần chất hữu cơ trong rơm rạ, tạo điều kiện cho nấm rơm dễ thu nhận chất dinh dưỡng, phát triển thuận tiện sau này.
 Sau khi ủ rơm từ 10-12 ngày, khi Đó đống rơm ủ xịt xuống, chiều cao khoảng 0,8-1,0m. khi này sở hữu thể đem rơm chất ra luống.
phương pháp xử lý nước vôi trước khi ủ. cách này được ứng dụng cho rơm, rạ đã khô. Rơm, rạ được nhúng vào nước vôi, pha có tỉ lệ 3 kg vôi cho 100 lít nước. Ngâm rơm vừa đủ ngập. Mục đích diệt nấm tạp, tẩy rửa chất phèn, chất mặn trong rơm rạ.
thời kì ngâm trong nước vôi từ 20-30 phút, sau Đó vớt ra, để ráo nước, chất thành đống có chiều rộng 1,5-2m, chiều dài 4-8m. Cần dậm nhẹ cho dẽ, lấy nylon, rơm hoặc lá chuối tủ loanh quanh để giữ ẩm và giữ nhiệt.
thời gian ủ 5-6 ngày: trong thời gian đầu, sau khi chất đống 2-3 ngày, trở rơm 1 lần. nếu như rơm quá ướt, cần giảm bớt công cụ đậy bên ngoài. nếu như rơm bị khô, cần bổ sung thêm nước vôi có tỉ lệ 3 kg vôi cho 100 lít nước, tưới vừa đủ.
tới ngày thứ 5-6 kiểm tra lại đống rơm. Rơm đủ ướt, lúc vắt vài cọng thấy có nước nhỏ vài giọt là thấp nhất.
Rơm đã đủ điều kiện để chất nấm phải đạt yêu cầu:
– Rơm rạ mềm hẳn.
– với màu vàng tươi.
– với mùi thơm đặc trưng của rơm rạ khi lên men.

Kỹ thuật bón phân qua lá cho cây

Theo các nhà công nghệ, bón phân qua lá thậm chí còn thấp cho cây hơn là bón qua rễ, bởi đây là bí quyết nhanh nhất mà chất dinh dưỡng được cây tiếp thu .
các ưu thế lúc bón phân qua lá:khi bón qua lá, chất dinh dưỡng phân phối cho cây trồng qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá. Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt đến 95%. khi mà Đó, bón qua đất, cây chỉ sử dụng được 45-50% chất dinh dưỡng. Sở dĩ như vậy là vì tổng diện tích bề mặt các lá trên 1 cây rộng gấp 15-20 lần diện tích đất được che phủ bởi cành và lá, tức là diện tích hấp thụ chất dinh dưỡng của lá rộng hơn hồ hết so có diện tích đất trồng của một cây. Qua khí khổng, những chất dinh dưỡng được dẫn đến những tế bào, mô cây để tiêu dùng. 
Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn với các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg,… những nhân tố này tuy với hàm lượng ít nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không sở hữu. do đó, lúc bổ sung những chất này trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng cho cây nên giúp cho cây phát triển toàn bộ trong từng giai đoạn sinh trưởng. Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay những yếu tố trung, vi lượng.
Trong thành phần của phân bón lá còn tăng cường điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng tiếp nhận dưỡng chất kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu trái, giảm hiện tượng rụng trái non, trái lớn đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh.

Heo nái chửa chỉ cần khoảng từ 113 -116 ngày, gồm 2 giai đoạn: công đoạn I (84 ngày chửa đầu) khối lượng bào thai đạt khoảng 25-30%; giai đoạn II (khoảng 30 ngày chửa cuối) bào thai tăng trưởng nhanh, chiếm khoảng 65-70% khối lượng heo con lọt lòng. thành ra, để heo con đạt khối lượng lọt lòng cao cần tăng khoảng 25-30% lượng thức ăn cho heo nái chửa kỳ II. thường ngày, heo nái chửa cần 14% tỉ lệ protein thô, 0,9% tỉ lệ canxi và 0,45% tỉ lệ phốt pho trong khẩu phần ăn. Mùa hè sở hữu thể giảm mức ăn nhưng phải tăng lượng protein từ 14% lên 16%, nâng mức khoáng và vitamin trong khẩu phần.

Kỹ thuật nuôi lợn nái

Việc trông nom heo nái mang thai rất quan trọng đối có sự thành công của người chăn.Sau lúc phối 21 ngày ko thấy nái động dục trở lại xem như đã sở hữu thai. thời kì mang kéo dài từ 3 tháng + 3 tuần + 3 ngày ( làng nhàng từ 114 – 116 ngày). Nhưng nếu nái sinh sớm trong khoảng ngày 108 trở lại thường rất khó nuôi con, dù có sữa nhưng con yếu ớt, sức bú mẹ kém và khả năng đề kháng kém nên tỷ lệ nuôi sống phải chăng. Trong thời kỳ có thai có thể chia ra làm cho 2 giai đoạn như sau: giai đoạn chửa kỳ 1: 1-84 ngày với thai
công đoạn này phôi và thai còn nhỏ, tiêu dùng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái tiêu dùng để dự trữ tạo sữa sau này. Thiếu chất dinh dưỡng trong thời kỳ này sở hữu ảnh hưởng xấu đến sự vững mạnh của phôi thai như hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống khi đẻ mà cất nhiều thôi khô (thai gỗ). Thừa chất dinh dưỡng cũng dẫn tới tiêu phôi và khiến cho nái phát triển thành mập mỡ. Nái lúc cai sữa quá gầy ốm ko dự trữ đủ dưỡng chất trong giai đoạn này sẽ thiếu sữa lúc cho con bú trong lứa đẻ kế tiếp. vì vậy phải định lượng thức ăn cho nái ở quá trình này phải khôn cùng chặt chẽ.
Thường trong quá trình có thai kỳ 1 khẩu phần ăn : 1,8 -2 kg thức ăn.

Heo nái chửa rất cần chế độ dinh dưỡng đặc thù và phù hợp nhằm đáp ứng cho sự tăng trưởng của bào thai, duy trì sự hoạt động của bản thân heo mẹ và tích lũy cho sự tiết sữa nuôi con sau này.